Hướng dẫn bảo dưỡng hệ thống bôi trơn 2 thì và 4 thì

Bài viết giới thiệu về cơ chế bôi trơn của động cơ 4 thì và 2 thì và một số hướng dẫn các bước bảo dưỡng hệ thống bôi trơn 2 thì và 4 thì.

Hướng dẫn bảo dưỡng hệ thống bôi trơn 2 thì và 4 thì
Hệ thống bôi trơn động cơ 4 thì

Động cơ 4 kì thường dùng 2 phương pháp trơn : bơm dầu và vẩy dầu.

Làm trơn bằng vẩy dầu

  • Dầu đổ vào các te đối với tất cả các xe máy thông dụng được quy định từ 0,7 đến 0,8 lít.
  • Đầu to thanh truyền có kết cấu vẩy dầu dạng thìa (muỗng) để vẩy (tát) dầu khi động cơ vận hành. Dầu được vẩy tung mạnh trong các te.
  • Dầu văng lên mặt gương xi lanh, bám vào mặt ngoài pít tông và xéc măng, vào lỗ chốt pít tông. Dầu bắn vào lỗ ở đầu thanh truyền, theo rãnh vào bạc chốt pít tông và vòng bi trục khuỷu.
  • Dầu bám vào bánh răng trục khuỷu, được xích cam đưa theo máng cao su đến bánh răng trục cam và trục cam. Dầu vào trục cam, đến cần mổ cà cam,…
  • Các te li hợp thông với các te hộp số. Các bánh răng vảy dầu tới mọi chi tiết trong li hợp và hộp và hộp số.
  • Sau khi làm trơn các chi tiết, dầu tự chảy vào các te.
  • Chất bẩn theo dầu đọng ở đáy các te. Đối với xe máy 4 kì, phải thay dầu các te khi chạy khoảng 1000 đến 1200km.

Xem thêm: Hướng dẫn canh chỉnh bình xăng con

Làm trơn bằng bơm dầu

Dầu từ các te qua lưới lọc vào bơm dầu. Ra khỏi bơm, dầu chia hai  mạch để vào khối xi lanh và vào các te li hợp.

  • Mạch dầu quy lát. Dầu qua lỗ các te, theo rãnh rất ngắn thuộc khối xi lanh để tới chân vít cấy. Vít cấy này vặn vào các te hộp số bên phải và gần bơm dầu nhất.
    • Dầu theo ống đặt vít cấy chạy qua khối xi lanh vào quy lát. Do áp lực bơm, dầu đến hốc bên phải quy lát (các te cánh bướm), vào lỗ khoan ở dầu trục cam, chạy dọc trục cam, vào tất cả các lỗ khoan khác và rãnh dẫn dầu.
    • Dầu làm trơn trục cam, bánh răng trục cam, cần mổ, xu páp,… và theo ống dẫn về các te. Ngoài ra dầu còn bắn tung trong xu páp.
  • Mạch dầu các te li hợp. Dầu qua lỗ khoan trong các te li hợp về đầu phải trục khuỷu, vào lỗ ở đầu trục khuỷu, chạy dọc trục khuỷu, vào tất cả các lỗ khoan và rãnh dẫn dầu.
    • Dầu làm trơn li hợp, trục khuỷu, thanh truyền. Do lực li tâm, dầu văng tới pít tông, xi lanh, xéc măng,… Đồng thời các bánh răng của li hợp và hộp số  cũng được vảy dầu bắn tung trong các te.
    • Dầu sau khi làm trơn lại trở về các te.

Sau thời gian làm việc quy định, dầu rất bẩn, được tháo theo lỗ vít xả dầu ở đáy các te trước khi được thay dầu  mới.
Hệ thống làm trơn bằng bơm dầu gồm các bộ phận : bánh răng điều khiển bơm dầu, trục điều khiển bơm dầu, bơm dầu, mạch dầu, lưới lọc, thước đo, các te dầu,… Giới thiệu sơ về 2 bộ phận là bơm dầu và mạch dầu.

Xem thêm: Hướng dẫn canh chỉnh xupap xe máy (chỉnh cò)

* Bơm dầu (bơm rô to)
Hướng dẫn bảo dưỡng hệ thống bôi trơn 2 thì và 4 thì

Bơm rô to hoạt động như sau : trục bơm dầu sẽ quay rô to trong và làm chuyển động rô to ngoài. Rô to ngoài vừa quay tròn trong thân bơm vừa tiếp xúc trượt với rô to  trong.
Dầu được hút từ ống hút dầu vào bơm và được nén từ vùng có thể tích lớn sang vùng có thể tích nhỏ dần trong lỗ thoát của bơm.

* Mạch dầu : gồm đường dầu bơm, đường dẫn dầu, rãnh dẫn dầu, dầu vẩy, dầu lan truyền…

  • Đường dẫn dầu. Trong nhiều chi tiết của động cơ có lỗ khoan dẫn dầu. Ví dụ : trục khuỷu, thanh truyền, chốt khuỷu,… Các lỗ khoan có thể nối từ chi tiết này sang chi tiết khác hoặc thông với rãnh dẫn dầu.
  • Rãnh dẫn dầu : trên các mặt tiếp xúc động thường có rãnh dẫn dầu (rãnh dầu), nhất là mặt tiếp xúc có tốc độ cao.

Hướng dẫn bảo dưỡng hệ thống bôi trơn 2 thì và 4 thì
Ví dụ : rãnh dẫn dầu trên đầu trục cam (hình 7.2)
Rãnh dẫn dầu chạy vòng trên mặt tiếp xúc động, nhận dầu từ lỗ dầu, được chế tạo bằng phương pháp phay.

Xem thêm: Hướng dẫn kiểm tra và bảo dưỡng bugi xe máy

Hệ thống bôi trơn động cơ 2 thì

Động cơ 2 kì thường dùng phối hợp 2 phương pháp làm trơn : pha dầu và vẩy dầu.
– Pha dầu vào xăng làm trơn xi lanh, pít  tông,  xéc  măng,  thanh  truyền, trục khuỷu, chốt pít tông, chốt khuỷu, ổ bi, bạc lót,…(hình 7.3)
Hướng dẫn bảo dưỡng hệ thống bôi trơn 2 thì và 4 thì
– Vẩy dầu từ các te do chuyển động của bánh răng nhúng trong dầu, làm trơn các bộ phận của li hợp và hộp số : đĩa ma sát, bánh răng, trục sơ cấp, trục thứ cấp, ổ bi,…

Các te trục khuỷu của động cơ 2 kì là buồng hoà khí nên không thể chứa dầu làm trơn. Vì vậy các chi tiết như xi lanh, trục khuỷu,…phải được làm trơn bằng dầu có trong hoà khí.
Có động cơ xe máy chỉ làm trơn bằng  cách pha dầu vào xăng vì không có bộ phận cần làm trơn bằng vẩy dầu.

Xem thêm: Bảo dưỡng sửa chữa hệ thống Xăng – Gió – Ống xả

Phương pháp pha dầu

Để đảm bảo cho động cơ làm việc tốt, khi pha dầu vào xăng cần lưu ý các điểm sau:
a) Chọn đúng dầu : dùng đúng loại dầu chuyên dành cho xe 2 thì (ký hiệu 2T)
b) Pha đúng tỉ lệ : Tỉ lệ dầu pha vào xăng được tính theo phần trăm hoặc thể tích.
Ví dụ : 3% hoặc 30cm3(cc) dầu nhờn trong một lít xăng.
Nhà chế tạo động cơ quy định tỉ lệ dầu,  thường từ 3,5 đến 6%. Thời kì rà (rốtđa) máy, cần tỉ lệ dầu cao hơn thời kì động cơ làm việc bình thường. Tỉ lệ dầu thông dụng đối với nhiều loại động cơ 2 kì là 5% (50cc dầu nhờn trong một lít xăng).
c) Hoà trộn đều. Đổ xăng vào bình chứa trước khi cho dầu nhờn và lắc đều để dầu không đọng ở đáy bình.

Xem thêm: Hướng dẫn chọn nhớt cho xe 2 thì và 4 thì

Hệ thống pha dầu tự động

Nhiều xe máy 2 kì đời mới có hệ thống pha dầu từ động, gồm các bộ phận sau : bình chứa dầu nhờn, lọc dầu, bơm dầu,…(hình 7.3)
Hướng dẫn bảo dưỡng hệ thống bôi trơn 2 thì và 4 thì

Bảo dưỡng, sửa chữa hệ thống bôi trơn

Trong quá trình hoạt động dầu nhờn ở các te bị hao hụt dần. Vì vậy phải kiểm tra thường xuyên mức dàu trong các te, nếu thấy thiếu thì bổ xung thêm để đảm bảo động cơ làm việc an toàn. Tuyệt đối không để dầu cạn đến dưới mức tối thiểu, chi tiết sẽ bị mài mòn nhanh, có thể dẫn tới lột biên. Dầu dùng cho động cơ đã kém phẩm chất hoặc mức dầu quá cao đều không tốt.

Xem thêm:

a) Kiểm tra mức dầu trong động cơ

* Động cơ 4 kì

  • Dựng chân chống giữa ở vị trí thẳng.
  • Tháo thước đo dầu, dùng giẻ lau sạch thân thước.
  • Đặt thước đo vào lỗ đo dầu (không vặn vào) và lấy thước ra để kiểm tra mức dầu. (mức dầu phải nằm giữa mức tối đa và tối thiểu).
    • Nếu dầu dưới mức tối thiểu phải bổ sung dầu đến mức tối đa (vạch trên của thân trước) vì máy đã có triệu chứng ăn dầu.
    • Nếu dầu trên mức tối đa sẽ hay chết máy do bị sục dầu cần xả bớt để mức dầu đúng quy định.

* Động cơ 2 kì

  • Dựng chân chống giữa ở vị trí bằng phẳng.
  • Dùng tua vít tháo vít kiểm tra mức dầu ở các te bên trái sát cần số.
  • Quan sát mức dầu ở lỗ vừa tháo vít ra.
    • Nếu mức dầu ở lỗ vừa tháo vít ra xấp xỉ mép dưới của lỗ là được.
    • Nếu mức dầu trong các te thấp hơn mép dưới của lỗ thì mở nắp đổ dầu rađổ thêm dầu nhờn đúng chủng loại hay tương đương cho đến khi dầu trong các te hộp số bắt đầu tràn ra khỏi mép dưới của lỗ.
    • Nếu khi tháo vít, dầu tràn đầy lỗ dầu ra thì phải xả bớt tới khi dầu vừa rỉ ra khỏi lỗ.

b) Thay dầu nhờn các te

Sau thời gian làm việc dầu sẽ bị biến tính phân huỷ giảm độ nhớt vì thế phải thay dầu.

  • Đối với động cơ 4 kì như xe Hon da xe chạy từ 1500 đến 2000km.
  • Đối với động cơ 2 kì như xe Sim sơn xe chạy từ 2500 đến 3000km.

* Phương pháp thay dầu

  • Dựng chân chống giữa xe ở vị trí bằng phẳng.
  • Khởi động để máy nổ đến nhiệt độ bình thường (5 phút).
  • Tắt máy đặt khay hứng dầu dưới đai ốc xả dầu.
  • Dùng cờ lê tròng tháo đai ốc xả dầu (mở nắp dổ dầu cho dầu chảy nhanh hơn). Để dầu chảy khoảng 10 phút thì đạp cần khởi động vài lần (có thể  dùng bơm thổi khí vào lỗ đổ dầu) để dầu xuống hết.
  • Kiểm tra vòng đệm của đai ốc xả dầu nếu cần phải thay.
  • Lắp lại và siết chặt đai ốc xả dầu.
  • Đổ dầu đúng chủng loại và đúng số lượng (có thể dùng thước kiểm tra) sau đó siết chặt nắp đổ dầu.

* Kiểm tra:
Khởi động máy khoảng 5 phút kiểm tra xem dầu có rò rỉ không. Tắt máy để dầu trong các te ổn định kiểm tra mức dầu và điều chỉnh mức dầu nếu cần.

c) Kiểm tra hệ thống bôi trơn. 

Hệ thống bôi trơn hoạt động kém hoặc không hoạt động sẽ làm máy nóng nhanh chóng gây phá hỏng chi tiết, máy ngừng hoạt động. Ta phải kiểm tra như sau :

  • Mở nắp đậy xu páp hút, khởi động cơ, quan sát và từ từ tăng ga. Nếu thấy dầu văng lên từng tia nhỏ chứng tỏ hệ thống bôi trơn làm tốt.
  • Nếu không thấy tia dầu văng ra, phải kiểm tra tiết.
  • Nối đai ốc dầu (đai ốc bên phải phía dưới nắp máy).
    • Nếu dầu trào mạch chứng tỏ đường dầu lên trục cam bị tắc (khả năng khi lắp các te cánh bướm không đục lỗ thông trên gioăng các te cánh bướm).
    • Nếu dầu không trào ra có thể do các nguyên nhân sau : dầu quá đặc, thiếu dầu ở các te, lọc dầu tắc, bẩn, các bánh răng bơm dầu mòn, đệm bơm dầu hở, bơm dầu hỏng vênh hở, lỗ dầu lên từ các te bị tắc.

d) Tháo bơm dầu khỏi động cơ

  • Dựng chân chống giữa đặt khay dầu vào phía dưới động cơ.
  • Tháo đai ốc xả dầu (bơm khí nén vào lỗ đổ dầu để xả hết dầu).
  • Tháo cần khởi động.
  • Tháo ống xả.
  • Tháo càng để chân.
  • Tháo các bu lông giữ nắp các te li hợp lấy nắp các te li hợp ra, lấy đệm lót và chốt định vị.
  • Tháo bộ li hợp.
  • Tháo 3 vít giữ bơm và lấy bơm ra.

e) Tháo rời bơm dầu ra và kiểm tra chi tiết

  • Dùng tua vít chữ thập tháo 3 vít giữ nắp bơm vào vỏ bơm và lấy nắp bơm ra.
  • Lấy trục rô to ra ngoài nhấc rô to trong và rô to ngoài ra khỏi vỏ bơm.
  • Vệ sinh chi tiết.
  • Kiểm tra vỏ bơm xem có bị nứt, bị vênh không.
  • Lắp rô to ngoài, rô to trong và trục điều khiểu vào vỏ bơm. Trước khi lắp nên bôi một lớp dầu vào các chi tiết.
    • Dùng thước lá đo khe hở giữa đầu răng rô to trong và rô to ngoài khe hở mày không quá 0,2mm. Nếu lớn hơn 0,2mm thì phải thay.
    • Dùng thước lá đo khe hở giữa rô to ngoài và vỏ bơm, khe hở này không được lớn hơn 0,2mm. Nếu lớn hơn thì phải thay chi tiết mòn.