Tìm hiểu các dòng mô tô – xe máy – Phân loại mô tô – xe máy

Phân loại mô tô, xe máy và tìm hiểu về các dòng xe. 

Sportbike, nakedbike, cruiser, scooter… là những cách gọi về xe máy xuất hiện hàng ngày.Từ khi xe máy ra đời, đã có rất nhiều biến thể để phù hợp với những mục đích vận hành khác nhau. Giữa các dòng xe đôi khi chỉ khác nhau đôi chút, mọi cách phân loại đều là quy ước dần dần được chấp nhận rộng rãi.

Tìm hiểu các dòng mô tô - xe máy - Phân loại mô tô - xe máy
Tìm hiểu các dòng mô tô – xe máy – Phân loại mô tô – xe máy

Phân loại Mô tô – Xe máy

1. Underbone

Đây là dòng xe phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay, hầu hết các mẫu xe số trên thị trường là underbone như Wave, Future, Sirius, Exciter… Đặc điểm chính của loại xe này là động cơ đặt bên dưới khung xe, bình xăng ở dưới yên. Với thiết kế này, trọng tâm xe lùi về sau hoặc ở giữa, phần đầu xe nhẹ nhàng. Dòng xe này còn có biến thể khác được gọi là hyper-underbone như các mẫu xe Suzuki Raider 150, Honda Nova…

2. Scooter

Scooter là loại xe mà ngưới lái có thể nhẹ nhàng bước qua khung (step-through frame) và có không gian rộng để chân phía trước. Loại thiết kế này xuất hiện vào những ngày đầu tiên của buổi bình minh nền công nghiệp xe máy. Từ scooter thường dùng để chỉ xe có dung tích động cơ từ 50 đến 250 phân khối. Nếu lớn hơn được gọi là maxi-scooter. Scooter không chỉ sử dụng hộp số vô cấp CVT (xe ga) như đa số xe ngày nay, dòng xe này còn sử dụng hộp số tay với số và côn được tích hợp ở tay lái bên trái. Một số thiết kế còn lại của xe tương đối giống với dòng underbone như động cơ lùi về phía sau, bình xăng dưới yên. Scooter cũng là loại xe máy có đường kính vành xe nhỏ hơn so với hầu hết các dòng xe khác.

3. Sportbike

Sportbike là loại môtô được thiết kế để tối ưu hóa tốc độ, khả năng tăng tốc, phanh và vào cua trên đường rải nhựa, không tối ưu hóa về cảm giác thoải mái khi lái xe hay mức nhiên liệu tiêu thụ. Soichiro Honda, người sáng lập ra hãng xe Nhật Bản từng viết rằng “yếu tố cần thiết chủ yếu của môtô là tốc độ và sự phấn khích”, và kết quả là sự ra đời của chiếc CB750 năm 1969, phá vỡ mọi rào cản về sức mạnh và tốc độ ở thời điểm bấy giờ. Khi ấy sportbike mới chỉ được nhìn nhận đơn thuần dựa trên tốc độ, sức mạnh động cơ chứ chưa chú ý nhiều đến kiểu dáng, thiết kế. Từ đầu những năm 1980, sportbike được trang bị các công nghệ tiến gần tới xe đua hơn, từ đó hình dáng của dòng xe này cũng giống với các xe đua. Và cũng từ sportbike, các biến thể nakedbike và streetfighter ra đời. Nhìn chung, hiện nay thiết kế hình học của sportbike được biết đến với những đặc trưng như gác chân cao lùi về phía đuôi, sát thân, cụm tay lái ở dưới thấp, góc tay lái hẹp kiểu clip-on, góc nghiêng càng trước nhỏ, khiến thân người và trọng tâm hướng về phía trước, tạo dáng ngồi chồm qua bình xăng.

Bộ quây thân xe khí động học. Để tạo điều kiện tăng tốc tối đa, hạn chế cản gió xe thường có kính chắn gió cao, bộ quây thân xe khí động học (có thể có hoặc không) để hướng luống không khí trượt thật nhanh và xe và người khi vận hành. Xe cũng thường được thiết kế bằng vật liệu nhẹ, bền, hệ thống phanh đĩa, giảm xóc tối tân nhất. Lốp xe thường to hơn so với những loại xe khác để tăng độ bám đường. Bên cạnh đó, trục cơ sở cũng thường ngắn hơn, tạo khối vững chắc, dễ dàng vào cua và chịu đựng tốt khi cỗ máy làm việc ở điều kiện khắc nghiệt. Để phân chia sportbike theo dung tích động cơ, hiện nay có ba phân khúc chính là cỡ nhỏ (đến 500 phân khối), cỡ trung (600-750 phân khối) và superbike (1000 phân khối trở lên).

4. Sport touring

Sport touring là dòng xe cùng chia sẻ nhiều đặc điểm với sportbike, nhưng có một số thay đổi để phù hợp với mục đích. Sport touring sinh ra để di chuyển những cung đường dài nhưng vẫn đảm bảo tốc độ xe ở mức cao. Do đó, nếu từ phiên bản sportbike, xe được nâng cao và mở rộng tay lái, gác chân tiến hơn về phía trước, góc nghiêng của càng trước lớn hơn, tạo tư thế lái thẳng người, thoải mái khi đi đường dài. Bên cạnh đó, sport touring còn có bộ quây lớn hơn, kính chắn gió cao, to bản và hầu hết có thể điều chỉnh. Trục cơ sở cũng đẩy dài ra, tạo không gian cho người ngồi phía sau. Khung phụ được thiết kế theo chiều ngang chứ không chổng ngược như sportbike, có thêm khung đèo hàng hoặc nơi mắc những thùng chứa đồ. Bình xăng to hơn, khoảng sáng gầm lớn hơn. Ngoài kiểu dáng, sport touring cũng được hạn chế sức mạnh công suất hay mô-men xoắn ở động cơ để đảm bảo dễ điều khiển hơn trên đường dài. Hầu hết các hãng xe đều sử dụng công nghệ và động cơ trên bản sportbike để lắp đặt cho phiên bản sport touring. Tiêu biểu như Triumph Sprint chia sẻ với sportbike Daytona. Để đảm bảo cho những hành trình dài, dòng xe này được tích hợp các công nghệ như điều hướng, giảm xóc điều khiển điện tử, sưởi ấm tay lái, sưởi ấm yên xe, kiểm soát hành trình, cảm biến áp suất lốp…

5. Nakedbike

Cụm từ nakedbike được sử dụng lần đầu vào năm 1993, khi Ducati ra đời dòng xe Monster và gọi tên là nakedbike. Thực tế, đúng như cái tên naked (trần truồng), dòng xe này được coi là phiên bản lược bỏ bộ quây của sportbike, cùng với một số thay đổi trong thiết kế và động cơ. Với nakedbike, tay lái được đưa lên cao và góc rộng hơn so với sportbike, lược bỏ tối đa những bộ phận che chắn như kính chắn gió, ốp đèn pha, bộ quây thân xe… Dáng ngồi vẫn hướng về phía trước nhưng không chồm như sportbike. Động cơ để trần không che chắn, được giới hạn công suất và mô-men xoắn cho khả năng vận hành nhẹ nhàng, linh hoạt trong nhiều điều kiện giao thông. Với nakedbike, tốc độ hay khả năng tăng tốc không phải là mục đích hướng tới, mà đó là sự linh hoạt, thoải mái khi di chuyển ngay trong phố, nhưng vẫn đảm bảo mạnh mẽ trên đường trường.

Từ nakedbike còn nhiều biến thể khác như fazer, streetfight…, mỗi dòng xe chỉ khác nhau đôi chút.

6. Fazer

Fazer là dòng nakedbike có phần đầu được chỉnh sửa với bộ vỏ bọc đèn pha thiết kế khí động học, có thêm kính chắn gió để đảm bảo che chắn gió cho người lái đỡ mệt khi phải di chuyển đường dài. Để phù hợp tay lái được đưa lên cao đôi chút, cụm đồng hồ có thể thay đổi.

7. Streetfighter

Streetfighter được coi là cầu nối gần nhất giữa nakedbike và sportbike. Thiết kế góc cạnh, khí động học như sportbike, lốc máy để hở dữ dẵn như nakedbike. Tổng quát xe vẫn là một chiếc nakedbike nhưng tiến gần về sportbike. Tay lái hạ thấp, cỗ máy điều chỉnh cho sức mạnh không thua kém sportbike.

8. Cruiser

Khái niệm cruiser bắt nguồn từ Mỹ, sau khi một số hãng ra đời những chiếc xe hầm hố như Harley-Davidson, Indian hay Excelsior-Henderson. Ban đầu cruiser gắn liền với ngoại hình to lớn, động cơ V-twin, nhưng thực tế còn nhiều loại động cơ khác với nhiều dung tích khác nhau. Cruser nói chung có kiểu để chân duỗi thẳng về phía trước, tay lái đưa lên cao với góc lái rộng, do đó lưng thẳng hoặc hơi ngả về phía sau. Với cruiser, động cơ thường được thiết lập mô-men xoắn ở mức thấp bởi không cần khả năng gia tốc nhanh như những dòng xe khác. Di chuyển ở tốc độ thấp cũng thoải mái hơn, tuy nhiên khi đi lâu ở tốc độ cao lại dễ mệt bởi thân người hứng chịu luồng gió thốc ngược. Dòng xe này cũng hạn chế khả năng vào cua ở tốc độ cao vì thiết kế khoảng sáng gầm thấp, phình to phía dưới xe.

9. Chopper

Chopper là một dạng cruiser, sở dĩ có cái tên chopper vì đây là dòng cruiser bị “chop” (tiếng Anh nghĩa là cắt bớt). Những mẫu xe này thường được ra đời sau khi mua chiếc cruiser nguyên mẫu, theo đó dạng chopper thường có tay lái cao, phuộc trước khá dài, góc nghiêng lớn, bình xăng nhỏ. Ngoài ra xe đôi khi có khung kéo dài dạng hardtail (không có hệ thống treo phía sau), một số bộ phận thường được lược bỏ như chắn bùn, đèn xi-nhan, đèn pha, một hoặc cả hai gương, đồng hồ, bộ khởi động điện, ắc-quy, chắn xích…

10. Bobber

Bobber cũng là một dạng xế độ chứ không phải xuất phát từ nhà máy của các hãng xe. Theo đó, những chiếc bobber thường không có chắn bùn trước, chắn bùn làm làm nhỏ đi và tất cả các chi tiết không cần thiết sẽ được lược bỏ để giảm bớt trọng lượng. Bobber và Chopper thường bị nhẫm lẫn bởi phong cách pha trộn, tuy nhiên bobber ra đời trước, mục đích ban đầu là để giảm chi phí, sau này dần trở thành phong cách độ xe. Điểm khác biệt lớn nhất là bobber xây dựng trên bộ khung ban đầu còn chopper thường là khung đã chỉnh sửa, cắt ghép để tạo hình mới.

11. Dual-Sport/Adventure

Dual-sport, hay còn gọi là dual-purpose hay on/off-road là mẫu xe được thiết kế để phù hợp với cả nhu cầu chạy đường phố và đường địa hình. Được phát triển dựa trên khung xe của loại dirt-bike, xe có thêm đèn, gương, bảng đồng hồ… để đủ điều kiện chạy phố. Dual-sport có yên xe và trọng tâm cao hơn những loại street-bike khác như sportbike hay nakedbike. Hành trình giảm xóc lớn cho phép chạy ở những đường xấu. Adventure là loại xe có khả năng chạy hành trình dài ở cả đường trải nhựa và không trải nhựa. Hình dáng cũng tương tự như các mẫu sual-sport. Tuy nhiên, về việc thể hiện tính năng thì adventure phát huy ưu thế hơn so với dual-sport ở đường nhựa, đuối hơn ở những địa hình xấu.

11. Motocross

Những dòng xe ‘cào cào’ mà người Việt quen gọi nhìn chung được xếp vào phân khúc xe off-road hay dirtbike, là nơi xuất hiện những dòng xe như motocross, enduro, trial, track-racing… So với những dòng on-road chạy đường phố, off-road thường có động cơ đơn giản và nhẹ hơn, giảm xóc hành trình dài hơn, khoảng sáng gầm lớn, thân xe đơn giản, không có bộ quây cũng như các chi tiết nhựa tạo hình.

Từng được gọi là scrambler, motocross là những xế đua đường off-road ngắn, nhiều chướng ngại vật. Dòng xe này thường có bình xăng nhỏ để giảm trọng lượng, hành trình giảm xóc lớn cho phép các tay lái thực hiện những cú nhảy xe ở tốc độ cao. Động cơ của motocross thường là loại xi-lanh đơn 2 hoặc 4 thì, thường có dung tích khoảng từ 50 đến 650 phân khối.

12. Enduro

Đây là dòng xe chỉnh sửa lại motocross và có thể sử dụng hợp lệ cho đường phố, có thêm các chi tiết tiện dụng như còi, đèn, ống xả giảm âm và giá cài biển số. Enduro cũng dùng để đua với đường đua ngắn hơn của motocross.

13. Rally Raid (Rally)

Đây là một dạng đặc biệt của Enduro với bình xăng lớn hơn, đường đua rất dài xuyên qua các sa mạc. Dung tích động cơ cũng thường lớn hơn, khoảng 450 đến 750 phân khối.

14. Trial

Đây là một dạng đặc biệt trong các xe of-road, dùng để thử thách sự cân bằng và chính xác hơn là tốc độ. Đối với một chiếc trial, trọng lượng thấp và độ nhạy phản ứng bướm ga là hai yếu tố được ưu tiên. Trial thường sử dụng động cơ 2 thì, dung tích 125 đến 300 phân khối.

15. Track-racing

Xe dùng để đua kiểu đường hình bầu dục ở tốc độ cao, đặc biệt không có phanh và giảm xóc phía sau. Động cơ được đốt cháy bởi xăng methanol, động cơ 4 thì xi-lanh đơn với hành trình piston dài. Hầu hết hộp số chỉ có 2 cấp. Trong thực tế, để bán các sản phẩm ra thị trường, các hãng xe thường tinh chỉnh mỗi dòng xe để đáp ứng được luật giao thông đường công cộng.

16. Cafe racer

Dòng xe này hiện nay được biết đến hầu hết với những mẫu xế độ, khá hiếm xe xuất phát từ nhà máy của các hãng. Thiết kế bên ngoài của một chiếc cafe racer nhìn chung có đủ những yếu tố gồm tay lái dạng thắt nút clip-on, ống xả kéo dài về phía sau, yên xe một chỗ ngồi, chế hòa khí lớn và bình xăng sợi thủy tinh hoặc nhôm. Nguồn gốc của cafe racer đến từ Anh suốt những năm 1960.

17. Tracker

Tracker hay Street Tracker được coi là sự kết hợp của track-racing và đường phố. Xuất phát từ những cuộc đua thập niên 60, nhiều người hâm mộ muốn những chiếc track-racing có thể chạy ngoài đường công cộng. Điều đó đồng nghĩa với việc phải thêm các bộ phận đảm bảo an toàn theo luật như đèn, phanh, gương…Từ đó tracker ra đời. Nhìn chung tracker thường có hình dáng như một chú bọ ngựa với tay lái cao, yên xe kéo dài ra sau nhưng hạn chế một chỗ ngồi kiểu cafe racer, không có chắn bùn trước, đôi lốp nhiều rãnh.

Tổng hợp từ vnexpress.net